MỘT CÂY LÀM CHẲNG NÊN NON
BA CÂY CHỤM LẠI NÊN HÒN NÚI CAO

NĂM UẨN

Thứ bảy - 13/05/2017 00:10
[Tu hành đúng chánh Phật pháp] - Tâm là cái biết theo thói quen, nhưng tâm không có phân biệt, không biết lựa chọn, tâm chỉ đón nhận thích hợp thói quen. Quen ác, tâm đón nhận xấu. Quen thiện, tâm đón nhận tốt.
 
NĂM UẨN

Qua Đường về xứ Phật, Trưởng Lão Thích Thông Lạc, giảng giải rằng: "Phật dạy không có thế giới siêu hình, siêu hình là cái bóng của hiện hữu. Khi hiện hữu mất thì bóng cũng biến luôn. Con người thường mơ tưởng thiên đường, và lo sợ những tội lỗi mình gây ra sẽ bị đày xuống địa ngục, khi chết đi, mơ tưởng không còn, thiên đường và địa ngục cùng biến theo luôn".

Khi chứng quả Alahán, Thầy Thông Lạc cũng quả quyết cho hàng Phật tử biết rằng không có thế giới siêu hình. Loài người cảm thấy có siêu hình là do tưởng thức hoạt động mạnh hơn ý thức. Vì một người có tưởng thức hoạt động mạnh hơn ý thức cho nên thường đưa người đó sống trong ảo tưởng, sống trong mộng mơ. Vì sống trong ảo tưởng cho nên thường là bất toại ý, vì vậy, họ mang tâm trạng càng nhiều khổ đau. Nếu một người huân tập cho ý thức mạnh hơn tưởng thức thì họ bớt ham muốn (ít dục), bớt sợ hãi, lúc bấy giờ đời sống của họ ít khổ hơn và một người muốn hết đau khổ hoàn toàn thì người đó phải buông xả hết dục vọng, vật chất, tình thâm đang dính mắc trên thân tâm và thường xuyên tu luyện ly dục, ly ác pháp, tăng trưởng thiện pháp, tiến đến tâm bất động, rồi, nhập Tứ thánh định đạt Tam minh thì làm chủ sinh già bệnh chết, giải thoát luân hồi.

Bộ óc điều khiển mọi hoạt động của con người, được gọi là não bộ. Trưởng Lão giảng giải rõ lời dạy của Phật rằng, não bộ là do 5 uẩn tạo thành gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

- Sắc uẩn: Là hữu hình, nhìn thấy được, cấu tạo từ tứ đại, lửa-đất-gió-nước. Sự nhận biết của sắc gọi là sắc thức, vô hình. Khi 6 căn mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, hướng ra ngoài, tiếp xúc, ghi nhận sự vật, cảnh vật, gọi là 6 trần, 6 trần từ bên ngoài đưa tín hiệu vào, sắc nhận qua sáu căn và phân biệt, sự phân biệt này gọi là sắc thức.

Đối với mắt trần, mắt thức phân biệt hình dạng, màu sắc, tối sáng... Đối với tai trần, tai thức phân biệt âm thanh trầm bổng, to nhỏ... Đối với mũi trần, mũi thức phân biệt mùi vị thơm, thúi... Đối với lưỡi trần, lưỡi thức phân biệt hương vị ngon, ngọt, đắng, cay... Đối với thân trần khi tiếp xúc, thân thức phân biệt cảm giác nóng lạnh, đau nhức, bén nhọn, êm ái... Và đối với ý trần, ý thức phân biệt tốt xấu, thiện ác... Từ đó, sắc thức truyền tín hiệu đến tâm. Tâm đón nhận tín hiệu và đón nhận theo thói quen rồi truyền lệnh cho hành làm việc. Ví dụ tâm muốn đẹp thì hành đón nhận, tâm chê xấu thì hành bỏ đi... Tâm chọn là do thói quen từng trải.

- Thọ uẩn: Vô hình, không nhìn thấy nhưng cảm nhận được. Thọ đón nhận tín hiệu đau đớn, buồn vui, lo sợ, nhớ nhung, mê đắm, ngứa ngáy, nhột nhạt, nóng lạnh, nhám trơn đưa tín hiệu qua tâm, tâm truyền lệnh cho hành uẩn làm việc.

- Tưởng uẩn: Không nhìn thấy nhưng cảm nhận được, khi chiêm bao, mộng tưởng, nhìn lầm người... gọi là tưởng thức. Tưởng thức vượt không gian và thời gian, tưởng thức truyền lịnh qua tâm cho hành uẩn làm việc trong mê tín, run sợ, quỳ lụy, hoang đường, đôi khi trùng hợp thực tế ngoài đời. Tưởng uẩn có bản chất dễ dàng thỏa mãn tham dục (nịnh thần).

- Hành uẩn: Hành động có được là do sắc, thọ và tưởng điều khiển. Hành uẩn như thiên lôi, sai đâu làm đó.

- Thức uẩn: Không phải là ý thức. Phần này không hoạt động, đến khi người nào đó, tu đạt được Tam minh thì đánh "thức uẩn" dậy và điều khiển thức uẩn hoạt động, thức uẩn sẽ hoạt động vượt không gian và thời gian gọi là liễu tri.

Trong khi đề cập đến tưởng uẩn, vậy ý nằm ở đâu? Ý nằm trong sắc uẩn. Ý thức, sự hiểu biết hạn hẹp bởi không gian và thời gian, có 2 phần là tri thức và trí thức.

a) Tri thức: Không học mà biết, do học từ kiếp trước trôi lăn theo nghiệp lực.

b) Trí thức: Có học mới biết, học sinh, sinh viên, học giả, chuyên nghiệp...

Tâm nằm ở đâu? Tâm chạy lung tung trong đầu, giống ngựa bất kham. Một khi hành giả tu luyện để ý thức kiểm soát được tâm thì đưa tâm về ở sắc uẩn, từ đó, tâm ngoan ngoãn theo chỉ thị của ý thức mà tiến vào tâm bất động. Một khi tâm đã bất động, việc làm của hành giả đã làm xong, không còn trở tới trở lui nữa.

Ý THỨC: Có khuynh hướng hướng thượng thiện pháp, nhưng bẩm tính yếu đuối và bị tưởng uẩn khiếp phục, cho nên hành giả cần trui rèn ý thức kiên cường và anh dũng thiện chiến mới chiến thắng được ác pháp trên thân tâm, có nghĩa thắng cho được tưởng thức. Ý thức mạnh mẽ mới điều khiển được tâm theo ý muốn. Hành giả muốn có đời sống an vui tự tại thì cần phải thường xuyên tôi luyện ý thức mới thắng được đam mê, cám dỗ lạc vào tà pháp do tưởng thức thúc dục. Điều quan trọng cần ghi nhớ là khi con người vừa thành hình thì tưởng thức đã hoạt động rồi, trong khi đó ý thức chập chững từng bước rất chậm. Càng chậm chạp hơn nữa khi trưởng thành mà tính làm biếng gia tăng thì ý thức phải đầu hàng tưởng thức và con người thường sống trong u mê mê tín dị đoan. Thường sợ hãi vu vơ...

Để thắng được tưởng thức, Phật dạy ý thức dùng như lý tác ý, tức dây cương huấn luyện tâm quen với thiện pháp. Khi tâm quen với thiện pháp thì tâm thoát ra ảnh hưởng của tưởng thức. Đồng thời, tưởng thức chạy theo tâm nên tưởng thức chuyển qua thân thiện với thiện pháp. Ý thức là trung thần. Nhờ tưởng thức chuyển qua thiện pháp, cho nên khi ta rơi vào cận tử nghiệp thì tưởng thức giúp ta tu hành theo chánh pháp.

Tâm là cái biết theo thói quen, nhưng tâm không có phân biệt, không biết lựa chọn, tâm chỉ đón nhận thích hợp thói quen. Quen ác, tâm đón nhận xấu. Quen thiện, tâm đón nhận tốt. Điều này cho biết rằng: Tâm không có tâm thức. Nếu tâm biết lựa chọn thì ta không cần phải tu hành mà làm gì. Bởi vì khi tâm tỉnh thức thì tâm chọn thiện pháp là ta chứng quả rồi.

Những ý niệm khởi lên trong đầu gọi là vọng tưởng. Những ý niệm khởi lên và lăng xăng trong đầu gọi là loạn tưởng. Những ý niệm là do nghiệp lực, đã có từ trước và được huân tập thành thói quen gọi là tạp khí. Bởi vì ý niệm là do nghiệp thiện, ác tạo thành, cho nên vọng tưởng không phải là do tâm thức, không phải là do ý thức, không phải là do tưởng thức. Vì vậy, không phải ức chế tâm cho hết vọng tưởng, làm như vậy là không đúng. Nếu ức chế tâm cho hết vọng tưởng thì bị rơi vào tưởng, tưởng thức hoạt động mạnh mẽ và đưa tâm lọt vào thế giới tưởng tri. Đức Phật dạy rằng muốn hết vọng tưởng thì phải dùng pháp tứ chánh cần xả ly tâm tham, sân, si, mạn, nghi và ái kiết sử thì hết vọng tưởng hay nói cách khác là ly dục, ly ác pháp, ngăn diệt ác pháp, tăng trưởng thiện pháp. Một khi thiện pháp tăng trưởng thì hết vọng tưởng, tức là tâm không phóng dật, tâm không phóng dật là tâm bất động, là tâm định trên thân, là tâm tiến đến bất động tâm định và tứ thần túc xuất hiện.

Tỳ kheo Thích Thanh Thiện

GHI CHÚ:

5 uẩn nếu được nhà giáo, học sinh, sinh viên... nghiên cứu và phát triển thì giúp ích cho sự tiến bộ của loài người. Bởi vì mỗi người tự biết rõ về mình. Nhất là biết rõ về hoạt động của tưởng thức. Tưởng thức giống y như nịnh thần luôn luôn thúc đẩy ta chìm đắm trong tham dục.

 
Mã bảo mật   
Thống kê

  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm30
  • Hôm nay2,874
  • Tháng hiện tại49,376
  • Tổng lượt truy cập401,926
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây